Sinh bệnh học bệnh vảy nến đến nay vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn. Nhưng đến nay đa số tác giả cho rằng bệnh vảy nến là một bệnh có cơ chế tự miễn và có liên quan đến di truyền (vảy nến típ 1 có di truyền còn vảy nến típ 2 không di truyền).
| Biểu hiện của bệnh vẩy nến |
Bệnh tự miến là rối loạn hệ miễn dịch làm cho sự nhận biết “ta hay không phải ta” không bình thường và cơ thể tạo kháng thể chống lại ngay chính tế bào, tổ chức, cơ quan của bản thân mình và gây nên những bệnh cảnh lâm sàng tương ứng với tế bào, tổ chức cơ quan bị tổn thương.
Người ta chia ra 2 loại bệnh tự miễn dịch: Bệnh tự miễn dịch đặc hiệu cơ quan (bệnh có kháng thể đặc hiệu chống lại thành phần chính của bệnh: bạch biến có kháng thể chống tế bào melanocyte…) và bệnh tự miễn dịch không đặc hiệu cơ quan (người bệnh có tổn thương nhiều cơ quan tổ chức do tụ sinh ra nhiều kháng thể chống lại cơ quan tổ chức đó: lupus ban đỏ hệ thống có nhiều kháng thể chống nhiều cơ quan, nên bệnh này gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng: gan, thận, thần kinh, da….).
3. Cơ chế bệnh sinh bệnh vảy nến đến nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ. Nhưng đến nay đa số tác giả nêu có liên quan đến di truyền và đến nay đã tìm thấy một số gen lien quan đến bệnh vảy nến có 7 vÞ trÝ: PSOS 1: 6p21.3; PSOS 2: 17q25; PSOS 3: 4q; PSOS 4: 1q21; PSOS 5: 3q; PSOS 6: 19p vµ PSOS 7: 1p). Những người có yếu tố di truyền sẽcó mang HLA đặc biệt HLA-CW6 và HLA-DR4 (chỉ có vảy nến típ 1), có tiền sử gia đình trong vảy nến (bố+mẹ bị vảy nến sẽ có khoảng 50% con bị vảy nến, bố hoặc mẹ + 1 anh chị em ruột: 16%, 1 anh chị em ruột: 7%...) và vảy nến típ 1 (tuổi khởi phát<40, có HLA-CW6 và HLA-DR4, có tiền sử gia đình và chiếm 80-85%).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét